Notice: fwrite(): write of 182 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53Warning: fread(): Length parameter must be greater than 0 in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 32Notice: fwrite(): write of 197 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53 Luật Sư Tư Vấn Giải Quyết Tranh Chấp Về Thừa Kế - Luật Sư Chuyên Đại Diện Ủy Quyền Tại Tòa Án | luatsugiadinh.net.vn

Luật sư tư vấn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc


+   Tranh chấp liên quan đế  hình thức và nội dung của di chúc đã lập;


+   Tranh chấp về việc chỉ định người thừa kế, người bị truất quyền hưởng di sản;


+   Tranh chấp cách phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

+   Tranh chấp về cách phân chia di sản để tặng cho, thờ cúng;


+   Tranh chấp về giao nghĩa vụ cho những người thừa kế;


+   Các tranh chấp liên quan đến vấn đề lập di chúc chung của vợ chồng;


+   Tranh chấp liên quan hiệu lực pháp luật của di chúc.

Các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật

+   Tranh chấp đối với các trường hợp thừa kế theo pháp luật;

+   Tranh chấp liên quan đến xác định người thừa kế theo pháp luật;

+   Tranh chấp liên quan đến thừa kế thế vị;

+   Tranh chấp về quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ, Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế;

+   Tranh chấp về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác.

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN 
c. Hàng thứ ba : cụ nội, cụ ngọai của người chết ; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, 
dì ruộc của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô 
ruột, dì ruột. 
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người 
ở hàng thừa kế chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó 
đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chồi 
nhận di sản ( Điều 679 ). 
Tuy nhiên trong một số trường hợp kể cả thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, thì 
những người sau đây không có quyền được hưởng thừa kế: 
Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi 
nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của 
người đó. 
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. 
Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế nhằm hưởng một phần 
hoặc tòan bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng. 
Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di 
chúc, giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc tòan bộ di sản trái 
với ý muốn của người để lại di sản. 
Nhưng những người có hành vi này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã 
biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản. 
Như vậy, người thừa kế có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức. Trường hợp người 
thừa kế là cá nhân thì cá nhân đó phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh 
ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản 
chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì cơ quan , tổ chức 
phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Điều 638 Bộ Luật Dân Sự). 
1.3. 

Di sản thừa kế 

Theo quy định tại Điều 637 di sản bao gồm: 
Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người 
khác. 
Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại 
phần thứ năm của BLDS. 
Một thực tế hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về di sản, dẫn đến tình trạng các vụ 
án thừa kế phải xét xử lại do xác định di sản không chính xác. Vậy hiểu thế nào mới chính xác 
và đầy đủ? 
Tại Điều 172 BLDS quy định “ tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị được 
bằng tiền và các quyền tài sản ”. Như vậy, quyền tài sản đã nằm trong khái niệm tài sản. Cho 
nên cần phải hiểu khái niệm di sản còn bao gồm cả các quyền tài sản như: quyền đòi bồi 
thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá trị, quyền sử dụng nhà thuê của nhà nước. 

Trang3 
_________________________________________________________________________ 

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN 
_____________________________________________________________________________________________ 

Mặt khác, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ của người chết. Do vậy, trong trường 
hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa vụ về tài sản, thì thông thường phần nghĩa vụ này 
sẽ được thanh tóan bằng tài sản của người chết. Phần còn lại sẽ được xác định là di sản thừa 
kế và được chia theo di chúc hay quy định của pháp luật. Theo đó, nghĩa vụ của người chết 
được thực hiện như sau: 
Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế sẽ có trác nhiệm thực hiện nghĩa vụ về 
tài sản do người chết để lại tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận. 
Trong trường hợp di sản chưa được chia, thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được 
người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người thừa kế. 
Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc, thì cũng phải 
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân. 
1.4. 
Di chúc 
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác 
sau khi chết. 
Di chúc phải được lập thành văn bản. Trong trường hợp tính mạng của một người bị cái 
chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không htể lập di chúc bằng văn bản, 
thì có thể di chúc miệng. Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể 
hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những 
người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Sau 3 tháng, kể từ thời điểm di 
chúc miệng mà người để lại di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc miệng bị hủy 
bỏ. 
Trong trường hợp di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập 
thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý; Di chúc của người bị hạn chế 
về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và 
có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn. 
Tuy nhiên, một di chúc dù bằng văn bản hay bằng miệng thì chỉ được coi là hợp pháp 
khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: 
Người lập di chúc đã thành niên, minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị 
lừa đối, đe dọa hoặc cưỡng ép. 
Nội dung di chúc không phải trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái 
quy định của pháp luật. 
Nếu việc lập di chúc có người làm chứng thì người làm chứng không phải là những 
người sau: 
Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc gồm tất cả các 
hàng thừa kế theo Điều 679 BLDS. 
Người có quyền nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc. 
Người chưa đủ 18 tuổii, hoặc đủ 18 tuổi nhưng người đó bị tâm thần hoặc mắc các 
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. 
Trang4 
_________________________________________________________________________ 

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN 
_____________________________________________________________________________________________ 

1.5. 

Thời hiệu khởi kiện vụ án thừa kế 

Theo qui định tại Điều 648 Bộ Luật Dân Sự : “thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 
mười năm, kể từ ngày mở thừa kế”. Trong thời hạn này, người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa 
án chia thừa kế, xác định quyền thừa kế của mình, truất quyền thừa kế của người khác. Hết 
thời hạn này, người thừa kế không còn quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp 
về quyền thừa kế. 
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế sẽ được tính bắt đầu từ thời điểm bắt đầu của 
ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kiện người để lại di sản chết và do đó, thời điểm kết thúc là thời 
điểm kềt thúc ngày tương ứng 10 năm sau. Tuy nhiên phải hiểu thời điểm mở thừa kế là thời 
điểm được xác định bằng giờ người để lại di sản chết, tại thời điểm đó xác định người thừa kế, 
di sản của người chết,… để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế. 
Như vậy, thừa kế là việc chuyển giao tài sản của một người sau khi người này chết cho 
những người khác theo qui định của pháp luật. Việc chuyển giao này có thể thực hiện theo di 
chúc, nếu người có tài sản đã lập di chúc trước khi chết. Trường hợp không có di chúc, di chúc 
không hợp pháp hoặc di chúc không phát sinh được hiệu lực pháp luật, thì việc chuyển giao tài 
sản sẽ thực hiện theo pháp luật. Trong trường hợp có tranh chấp về tài sản thừa kế thì người 
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. 
Qua quá trình phân tích những nội dung cơ bản của chế định thừa kế, chúng ta có thể 
nhận thấy các vụ án tranh chấp về thừa kế có những đặc điểm sau: 
Thứ nhất: Quan hệ pháp luật về thừa kế là một quan hệ pháp luật mang tính chất đặc 
thù. Vì những người tham gia vào quan hệ pháp luật này là những bên có quan hệ huyết thống 
gần gũi với nhau như: cha, mẹ, con, anh, em v.v…hoặc quan hệ hôn nhân như: vợ chồng, và 
quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi. Chính vì vậy, để giải quyết các vụ tranh chấp về quyền 
thừa kế người Luật sư không những phải nắm vững và áp dụng đúng đắn các quy định của 
pháp luật về thừa kế mà còn phải có trách nhiệm nhằm giữ vững tình yêu thương, đòan kết 
trong gia đình khách hàng của mình. 
Thứ hai: Lọai án về thừa kế là lọai án phức tạp đặc biệt trong việc thu thập đầy đủ 
chứng cứ. 
Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự ( BLTTDS) thì “ Các đương sự có quyền và 
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và 
hợp pháp; Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ 
luật này quy định” (Điều 6). Nhưng thực tế thì phần lớn các vụ án tranh chấp về thừa kế, 
nguyên đơn không thể có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh để xuất trình cho 
Tòa án. Trong khi phía bị đơn (thường là những người trực tiếp quản lý khối di sản và nắm giữ 
các tài liệu quan trọng), họ không chịu xuất trình cho Tòa án,không tạo điều kiện cho Tòa án 
tiến hành thu thập chứng cứ; hoặc do thời gian đã quá lâu , các tài liệu liên quan đến vụ án đã 
bị thất lạc. Đặc biệt đối với bất động sản thì các tài liệu lưu trữ tại cơ quan nhà nước cũng 
không thể hoặc có cũng không đầy đủ, ghi chép sơ sài, do đó vấn đề xác định di sản do người 
chết để lại rất khó khăn. 
Đồng thời cũng do thời gian đã quá lâu, khối di sản đã bị biến động nhiều ( có thể do 
nguyên nhân khách quan hoặc do nguyên nhân chủ quan ) nên việc xác định chính xác, cụ thể 
khối di sản không dễ dàng. Chính vì vậy điều tra xác minh như: đo đạc, xem xét thực tế và định 
giá khối di sản thừa kế v.v… là vô cùng khó khăn, phức tạp. 
Trang5 
_________________________________________________________________________ 

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẼN 
_____________________________________________________________________________________________ 

Mặt khác, do nhận thức pháp luật còn hạn chế nên người dân thường lập di chúc không 
tuân theo quy định của pháp luật ( di chúc miệng không có người làm chứng, di chúc bằng văn 
bản lại chưa phù hợp với pháp luật nhiều trường hợp còn ghi quá sơ sài, không rõ nghĩa, nên 
để xác định đúng thực chất ý chí của người để lại di sản cũng khó khăn. Việc nhận con nuôi 
cũng chỉ đơn thuần xuất phát từ tình cảm chứ không tuân theo một thủ tục pháp lý nào, nên 
căn cứ để Tòa án xác định một người là con nuôi chủ yếu là xác định con nuôi thực tế. 
Cho nên, đối với các tranh chấp về thừa kế là luật sư nhất thiết phải nắm vững các vấn 
đề sau: 
+ Tòa án có thẩm quyền thụ lý 
+ Thẩm quyền khởi kiện của khách hàng 
+ Thời điểm, địa điểm mở thừa kế. 
+ Thời hiệu khởi kiện 
+ Đối tượng được quyền hưởng thừa kế